Không có doanh nghiệp vận tải nào có kết quả sản xuất kinh doanh tăng

Theo thống kê của Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam, do tác động của dịch COVID-19, không có doanh nghiệp vận tải nào có kết quả sản xuất kinh doanh tăng so với năm 2019.

Ông Nguyễn Văn Quyền, Chủ tịch Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam phát biểu.

Ngày 14/4, Tổng cục ĐBNV cùng Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam đã tổ chức hội nghị đánh giá đánh giá tác động của dịch COVID-19 đối với hoạt động sản xuất kinh doanh vận tải đường bộ.

Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Quyền, Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam cho biết, dịch COVID-19 tác động sâu rộng đến kinh tế xã hội của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam có tổ chức cuộc khảo sát, đánh giá tác động của dịch đối với tình hình vận tải. Kết quả khảo sát cho thấy tác động của dịch đối với từng doanh nghiệp vận tải là khác nhau. Trên cơ sở khảo sát, Hiệp hội Vận tải ô tô sẽ đề xuất, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền nhằm tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp.

Theo ông Đỗ Xuân Hoa, Tổng thư ký Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam, đối với các đơn vị kinh doanh vận tải (VTĐB), khảo sát trong tổng số 87 đơn vị (có đơn vị kinh doanh vận tải hành khách (VTHK) là 38 đơn vị, kinh doanh vận tải hàng hóa (VTHH) là 22 đơn vị, kinh doanh vận tải vừa hành khách và vừa hàng hóa là 27 đơn vị) ở các tỉnh, thành phố đại diện cho các địa bàn, khu vực cả nước.

Nhìn chung, do ảnh hưởng của COVID-19, số lượng xe khách cỡ nhỏ từ 9 chỗ trở xuống (chủ yếu là xe taxi) giảm mạnh từ 7983 xe năm 2019 xuống còn 5.442 xe năm 2021.Còn các xe buýt cỡ lớn, xe buýt cỡ nhỏ; xe khách cỡ nhỏ, xe khách cỡ lớn, xe khách cỡ trung và xe khách cỡ nhỏ có biến động không nhiều; Số xe tải nhẹ (<2 tấn) năm 2021 tăng nhẹ so với năm 2019; Số xe tải hạng trung (2 ÷ 7 tấn), hạng nặng (7 ÷ 20 tấn), xe container có biến động nhẹ; Số xe tải hạng nặng (loại trên 20 tấn) giảm mạnh (56%) từ 698 xe xuống còn 392 xe…

Ông Đỗ Xuân Hoa, Tổng thư ký Hiệp hội Vận tải Ô tô báo cáo cuộc khảo sát tại hội nghị.

Về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của bến xe khách (BXK) do ảnh hưởng của dịch COVID-19: có 1 đơn vị tăng 10- 20%; 4 đơn vị giảm dưới 10%; 5 đơn vị giảm 10- 20%; 1 đơn vị giảm 40- 50% và 2 đơn vị giảm trên 50%; Có1 đơn vị chọn tăng dưới 25%; 5 đơn vị chọn giảm dưới 25%; 4 đơn vị chọn giảm 25- 50%; 4 đơn vị chọn giảm 50- 75% và 1 đơn vị giảm trên 75%. Về tổng doanh thu so với cuối năm 2019 không có đơn vị nào báo cáo có doanh thu tăng; 9 đơn vị giảm dưới 25%; 5 đơn vị chọn giảm 25- 50%; 1 đơn vị giảm 50 - 75%.

Tổng chi phí vận hành doanh nghiệp có 7 đơn vị giảm dưới 25%; 5 đơn vị giảm 25 - 50%; 3 đơn vị giảm 50 - 75% so với cuối 2019.

Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam đánh giá không có đơn vị nào báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tăng; trong khi 15 đơn vị báo cáo giảm; giảm nhiều nhất là trên 75% có 1 đơn vị; giảm từ 25- 50%: 3 đơn vị; giảm dưới 25%: 1 đơn vị; phổ biến là giảm 50- 75%: 10 đơn vị.

Về chi phí nhân sự lao động, theo Hiệp hội Vận tải ô tô, trong giai đoạn COVID-19 có 11 đơn vị chọn mức 1 (nặng nhất), 5 đơn vị chọn  mức 2 (trung bình). Trong dài hạn, 9 đơn vị chọn mức 1, 5 đơn vị chọn mức 2; Chi phí tài chính (lãi vay ngân hàng).

Trong giai đoạn COVID-19, 3 đơn vị chọn mức 1; 4 đơn vị chọn mức 2 và 3 đơn vị chọn mức 3(mức nhẹ nhất). Trong dài hạn: 3 đơn vị chọn mức 1, 3 đơn vị chọn mức 2, 4 đơn vị chọn mức 3.

Đây là yếu tố phụ thuộc vào cả tình hình khách quan và chủ quan của doanh nghiệp; nếu doanh nghiệp vay ngân hàng ít thì chi phí tài chính ít và ngược lại; Chi phí năng lượng: trong giai đoạn có dịch COVID -19: 5 đơn vị chọn mức 2, 8 đơn vị chọn mức 3, không có đơn vị chọn mức 1. Trong dài hạn: 5 đơn vị chọn mức 2, 7 đơn vị chọn mức 3. Trong cả giai đoạn có dịch và dài hạn không có đơn vị nào chọn mức 1.

Hội nghị được kết nối trực tuyến với các Sở GTVT.

Cũng theo Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam, nếu dịch COVID-19 kéo dài 1 năm nữa 3 đơn vị chọn tiếp tục duy trì hoạt động ổn định; 7 đơn vị chọn cắt giảm quy mô SXKD; 6 đơnvị chọn tiếp tục duy trì hoạt động với các giải pháp thích ứng mới, lâu dài. Nếu dịch COVID-9 kéo dài 2 năm nữa thì số đơn vị lựa chọn tương ứng là 3, 4 và 7. Nếu dịch COVID-19 kéo dài 5 năm nữa số đơn vị lựa chọn tương ứng là 4, 4 và 5.

“Điều đáng mừng là trong cả 3 khả năng diễn biến của dịch bệnh COVID-19 kéo dài 1 năm, 2 năm nữa hay 5 năm nữa thì cũng không có đơn vị nào chọn phương án tạm dừng hoạt động SXKD; giải thể hay phá sản” – ông Hoa nói.

Để giải quyết khó khăn, theo khảo sát, về các giải pháp muốn thực hiện, giải pháp đẩy mạnh thương mại điện tử có 3 đơn vị lựa chọn; giải pháp cắt giảm lao động, cho lao động dãn việc và nghỉ việc không lương, mỗi giải pháp có 1 đơn vị muốn thực hiện. Các giải pháp khác không có đơn vị nào lựa chọn.

Về các giải pháp đang thực hiện: các đơn vị đang thực hiện khá nhiều giải pháp trong đó các giải pháp phổ biến nhất là: cho lao động nghỉ việc luân phiên được 12 đơn vị chọn, cắt giảm chi phí hoạt động doanh nghiệp: 11 đơn vị chọn, thu hẹp quy mô sản xuất: 6 đơn vị chọn, giải pháp chủ động duy trì thị trường, thích ứng với các điều kiện khó lường: 7 đơn vị chọn.

Về các giải pháp trong dài hạn: Giải pháp được nhiều đơn vị lựa chọn nhất là chuyển đổi dịch vụ chủ lực: 5 đơn vị chọn; cắt giảm lao động và cắt giảm chi phí hoạt động của doanh nghiệp mỗi giải pháp đều có 4 đơn vị lựa chọn; giải pháp chủ động các giải pháp để duy trì được thị trường thích ứng với diễn biến khó lường: 3 đơn vị lựa chọn.

Về thực hiện các giải pháp của Chính phủ hỗ trợ hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị thiệt hại do ảnh hưởng của dịch COVID-19, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đã được các đơn vị đón nhận, triển khai tích cực. Nhiều chính sách đã có trên 50% số đơn vị khảo sát được thụ hưởng như: giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: 11 đơn vị, giảm tiền thuế đất phải nộp: 10 đơn vị, tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất: 10 đơn vị, hỗ trợ người lao động phải nghỉ việc do dịch COVID-19 từ 1 tháng trở lên: 10 đơn vị;

Bên cạnh đó cũng có nhiều đơn vị biết Chính phủ đã ban hành chính sách, đã được hướng dẫn nhưng chưa tiến hành thực hiện thủ tục: như chính sách giảm lãi suất vay ngân hàng: 4 đơn vị; khoanh nợ ngân hàng: 4 đơn vị; vay để trả lương cho người lao động phải nghỉ việc do dịch COVID-19: 5 đơn vị; lùi thời hạn nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế: 5 đơn vị

Cũng còn một số đơn vị chưa biết thông tin hoặc chưa biết đầu mối để tiếp cận chính sách như: chính sách về giảm lãi suất vay ngân hàng: 2 đơn vị; chính sách khoanh, dãn nợ ngân hàng: 2 đơn vị…

Về nhiên liệu, năng lượng, bảo vệ môi trường: có 3 giải pháp được nhiều đơn vị lựa chọn tương ứng với giai đoạn 2021-2025; 2026-2030 và sau 2030 là: sử dụng nhiên liệu tiết kiệm 13,10,10 đơn vị lựa chọn; chuyển đổi sang sử dụng các thiết bị có hiệu suất cao hơn 8,12, 9 đơn vị lựa chọn; áp dụng các giải pháp bảo vệ môi trường khu vực BXK ( giảm thiểu ô nhiễm), khử, loại bỏ các chất gây ô nhiễm như khí thải, chất thải, tiếng ồn: 7, 6, 12 đơn vị lựa chọn….

Đối với các đơn vị kinh doanh Trạm dừng nghỉ (TDN): Hiệp hội đã gửi 12 phiếu khảo sát nhưng chỉ có 5 trạm dừng nghỉ tham gia và gửi kết quả; Theo đánh giá tổng thể, do tác động của  COVID-19 có 1 TDN giảm dưới 25%; 1 TDN giảm 25 – 50%, 2 TDN giảm 50-75% và 1 TDN giảm trên 50%.

Hiệp hội nhận định, nếu dịch kéo dài 1 năm nữa: có 1 TDN tiếp tục hoạt động ổn định; 1 TDN tạm dừng hoạt động; 2 TDN tiếp tục hoạt động với các giải pháp thích ứng lâu dài. Nếu dịch tiếp tục 2 năm nữa: 1 TDN tiếp tục hoạt động, 1 TDN cắt giảm quy mô; 1 TDN tạm dừng hoạt động; 2 TDN tiếp tục duy trì hoạt động với các giải pháp thích ứng mới, lâu dài. Nếu dịch tiếp tục kéo dài 5 năm nữa: có 1 TDN tiếp tục hoạt động, 1 TDN phá sản, 1 TDN giải thể, 2 TDN tiếp tục hoạt động với các giải pháp thích ứng mới, lâu dài.

Công tác chuyển đổi số; giảm thiểu cacbon cũng được hội nghị trao đổi.

Quá trình triển khai khảo sát và phân tích tình hình hoạt động của các doanh nghiệp vận tải đường bộ dưới tác động của dịch COVID-19, nhóm thực hiện dự án có một số phát hiện và kiến nghị như:

Những doanh nghiệp có quy mô trung bình trở lên, có tổ chức quản lý tốt, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp và kết nối với khách hàng thì sức chống chịu trước dịch bệnh tốt hơn các doanh nghiệp nhỏ với tổ chức quản lý đơn giản; Những hợp tác xã dịch vụ hỗ trợ rất khó khăn trong việc lập hồ sơ để hưởng các chính sách hỗ trợ về giảm thuế; giảm lãi suất vay ngân hàng…

Vận tải đường bộ cũng là ngành có nhiều tiềm năng áp dụng chuyển đổi số để đạt được mục tiêu kép là nâng cao hiệu quả kinh doanh; giảm thiểu phát thải khí nhà kính; giảm thiểu tai nạn giao thông. Hiện đã có một số doanh nghiệp áp dụng cho hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên số đơn vị áp dụng chưa nhiều và chưa toàn diện trên cả 3 mặt là quản trị doanh nghiệp, kết nối và giao tiếp với khách hàng và quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước. Hiệp hội kiến nghị BGTVT có chỉ đạo để thúc đẩy việc chuyển đổi số trong ngành Vận tải đường bộ.

Trong điều kiện dịch COVID-19, thương mại điện tử có bước phát triển đột phá và tiềm năng thương mại điện tử còn rất lớn, Vận tải đường bộ với lực lượng vận tải hàng hóa, vận tải hành khách hoạt động rộng khắp có tiềm năng giải quyết khâu vận tải nhanh và chi phí tiết kiệm nhất nhờ tận dụng chiều xe chạy rỗng hoặc khoang chứa hàng của xe khách đường dài.

Hiện nay, việc nhận vận chuyển hàng ký gửi vẫn chỉ là hoạt động nhỏ lẻ của lái xe khách kết nối trực tiếp với người gửi hàng; các bến xe khách với lợi thế về mặt bằng, vị trí thuận lợi trong kết nối với bên gửi hàng và bên vận tải nhưng cũng chỉ mới có một số ít tham gia vào chuỗi thương mại điện tử; một số bến xe cho các đơn vị có nhu cầu cần thuê mặt bằng làm kho, bãi. Hiệp hội kiến nghị Bộ GTVT có chủ trương và chỉ đạo các đơn vị vận tải, nhất là các đơn vị vận tải hành khách và bến xe khách chủ động nghiên cứu, hợp tác để tham gia ngày càng sâu rộng vào chuỗi cung ứng thương mại điện tử.

Hoạt động vận tải đường bộ trong điều kiện phòng chống dịch phát sinh nhiều vấn đề như tình trang phương tiện phải dừng để kiểm tra nhiều lần trên đường; bị ùn tắc ở các cửa khẩu; phương tiện kinh doanh vẫn phải dán phù hiệu trên xe; hành khách vẫn mua vé giấy tại bến xe… Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận tải, giảm chi phí cho đơn vị và quản lý nhà nước về hoạt động vận tải tải hiệu quả hơn. Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam cũng đề nghị Bộ GTVT có đề án tổng thể và chỉ đạo triển khai về chuyển đổi số trong quản lý vận tải đường bộ.

Cũng tại hội nghị, các đại biểu cũng đã thảo luận về công tác chuyển đổi số nâng cao hiệu quả của hoạt động vận tải đường bộ và giảm thiểu khí cacbon trong ngành GTVT.

Tác giả: Đức Mạnh
Bài viết liên quan
Liên kết website
Thông kê truy cập
Lượt truy cập hiện tại : 9
Hôm nay : 756
Hôm qua : 3.638
Tháng 08 : 19.542
Năm 2022 : 1.061.481